Phân tích hệ thống ngân hàng Việt Nam 2026

22 Trần Quốc Toản, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp.HCM
Tiêu điểm
VH & TG: Lầm tưởng về văn hoá làm việc “996” của Trung Quốc BĐS: Hạ tầng mở đường chu kỳ mới Tin tức: Trung tâm tài chính quốc tế - “cú hích” tái định hình dòng chảy vốn tại Việt Nam CN & MT: Thung lũng Silicon tham chiến CN & MT: Đã đến lúc nhắm mục tiêu vào quyền lực chính trị của những kẻ gây ô nhiễm CN & MT: Hệ thống thần kinh hành tinh mới nổi của chúng ta CN & MT: Khí hậu sẽ không khuất phục trước ý chí quyền lực của Trump CN & MT: Nhiệm vụ tìm kiếm hàng hóa sạch SK & Đời Sống: Việt Nam đối mặt địa chấn kinh tế Thư Giản: Thế kỷ 16 và 2026: Dự báo Lịch sử SK & Đời Sống: Di dân: Sức khỏe, chất lượng sống, tái định nghĩa Thư Giản: Kinh Dịch, Địa Chính Trị và Vận Mệnh CN & MT: Biến đổi khí hậu: Thực trạng, thách thức, giải pháp 2026 BĐS: 3 “ông lớn” chia thị phần bất động sản TP.HCM năm Bính Ngọ: Vinhomes làm siêu dự án ngoại ô, Masterise tiếp tục giữ trung tâm, Sun Group đánh thức vùng ven sông Tin tức: Hình hài đại đô thị lấn biển Cần Giờ sau gần 1 năm triển khai Tin tức: Liệu Nga và Hàn Quốc có thể giúp Việt Nam hiện thực hóa tham vọng năng lượng hạt nhân? SK & Đời Sống: Bùng nổ các đại đô thị CN & MT: Năng lượng sạch bất ngờ ‘gánh’ hơn 1/3 GDP của Trung Quốc Tin tức: Quy hoạch sân bay Tân Sơn Nhất trên 791ha: Bài toán tối ưu hạ tầng đến năm 2050 CN & MT: 5 nguồn năng lượng tái tạo đang định hình tương lai xanh của thế giới Tin tức: Cần Giờ - 'Cửa ngõ' đại dương của siêu đô thị Tin tức: Tây Ninh đủ điều kiện trở thành trung tâm logistics chiến lược phía Nam VH & TG: IMF khuyến nghị Trung Quốc lấy tiêu dùng trong nước làm động lực tăng trưởng kinh tế VH & TG: Dân Số Thế Giới 1000-1700 Tiền Tệ : Phân tích hệ thống ngân hàng Việt Nam 2026 SK & Đời Sống: Tái cấu trúc KCN Việt Nam quanh cảng CN & MT: năm 2026 đại hiệu chỉnh Elysium ốc đảo tinh hoa 2080 : Từ Nhiên Liệu Đến Nguyên Liệu SK & Đời Sống: Hoàng Sa, Nguyễn Văn Trỗi Đến 2035 VH & TG: Kinh Dịch, Vận Mệnh Mỹ và Trung Hoa VH & TG: Cầu Mưu, Tỉnh Táo, Tránh Bị Đổi Chác Chứng khoán: Đầu tư nội địa giữa bất ổn toàn cầu BĐS: Mặt bằng trung tâm TP.HCM: Thực trạng và dự báo BĐS: Không đánh đổi giá nhà lấy tăng trưởng viển vông! BĐS: Thực trạng phân khúc nhà liền thổ tại TPHCM BĐS: 5 lưu ý khi đầu tư LƯỚT SÓNG bất động sản BĐS: Hơn 32.000 căn nhà ở xã hội gần TP.HCM trong kế hoạch xây dựng năm 2025 của Long An : Nếu không sửa luật, dự án bất động sản sẽ tắc trong 10 năm tới Tin tức: KEVIN WARSH – MỘT NHÂN VẬT MANG TƯ DUY THỰC DỤNG VÀ AM TƯỜNG THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH – NGỒI VÀO CHIẾC GHẾ QUYỀN LỰC NHẤT FED. Tin tức: Thỏa thuận thương mại 'lớn nhất từ ​​trước đến nay' BĐS: Chủ nhà chốt lời đúng đỉnh: Ôm 23 tỷ bán chung cư gửi ngân hàng thu lãi 115 triệu mỗi tháng, rồi ở nhà thuê chờ BĐS giảm giá mới mua CN & MT: Chuyên gia Đức: 'chúng ta tụt hậu 20 năm so với Trung Quốc về công nghệ pin xe điện' CN & MT: Mỹ vượt Nhật Bản trở thành nhà sản xuất thép lớn thứ ba thế giới VH & TG: Quyền lực kinh tế và sự thay đổi bá quyền VH & TG: Trung Quốc: Tử Huyệt Dầu Mỏ Và Chiến Tranh CN & MT: La Nina, El Nino đổi cách tính mới, La Nina sẽ xuất hiện dày hơn VH & TG: Giới siêu giàu Trung Quốc quản lý tài sản với tư duy toàn cầu CN & MT: Chuyện lạ: Đức và Nhật Bản dẫn đầu thế giới suốt nửa thế kỷ, nhưng lại bại dưới tay thợ rèn ở Trung Quốc Tiền Tệ : Chân dung người được chọn vào ghế Chủ tịch Fed: 35 tuổi đã vào Hội đồng Thống đốc, nổi tiếng với lập trường cứng rắn về nới lỏng tiền tệ CN & MT: Kỹ sư: Công nghệ Nhật Bản ổn, Pháp hay nhưng Trung Quốc phải dùng cụm từ này SK & Đời Sống: Cấp phép kinh doanh mặt tiền đường yêu cầu phải có chỗ để xe cho khách, không lấn chiếm vỉa hè? Tin tức: Thâm hụt thương mại Mỹ tăng mạnh nhất trong gần 34 năm Tiền Tệ : Luật Tiền Mới: Thanh Lọc Hay Sụp Đổ? SK & Đời Sống: Khoa học, Đại dịch và Tương lai Nhân loại SK & Đời Sống: Thư Gửi Tương Lai: Bài Học Lịch Sử VH & TG: Mỹ yếm thế trong đối đầu với Trung Quốc VH & TG: Nông thôn Trung Quốc: Những cuộc trở về đáng lo Tiền Tệ : Fed, USD và Tương lai Kinh tế Toàn cầu Tin tức: Di dời trường học, bệnh viện khỏi trung tâm TPHCM để giảm ùn tắc VH & TG: Đại chiến lược đằng sau chính sách đối ngoại của Trump VH & TG: Trung Quốc tích trữ lương thực và năng lượng đề phòng rủi ro chiến tranh VH & TG: THÁI ĐỘ BÀI CHÂU ÂU CỦA MỸ BẮT NGUỒN TỪ NHẬN THỨC VỀ SỰ YẾU KÉM VỀ QUÂN SỰ VÀ SỰ SUY GIẢM DÂN SỐ BẢN ĐỊA SK & Đời Sống: Cô đơn: Xu hướng xã hội Việt Nam Tiền Tệ : Sau năm 2025 rút vốn kỷ lục, khối ngoại tiếp tục bán ròng gần 7.000 tỷ trong tháng 1/2026 Tiền Tệ : Tăng trưởng GDP và chiến lược hạ tầng Tin tức: Kinh tế tư nhân chỉ phát triển lành mạnh trong môi trường lành mạnh BĐS: TS Cấn Văn Lực: Bất động sản không phải là lĩnh vực được ưu tiên vay vốn Thư Giản: Cuộc Xuất Hành Vĩ Đại 2026: Bình Minh Mới SK & Đời Sống: Nơi thảo nguyên vẫn còn SK & Đời Sống: Hikikomori: Lời Cảnh Tỉnh Và Giải Pháp BĐS: Dòng tiền đầu tư 'áp đảo' thị trường bất động sản BĐS: TS. Cấn Văn Lực: Lãi suất đã bước sang cuộc chơi mới Thư Giản: Bình minh 2026: Cuộc xuất hành vĩ đại VH & TG: Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ: Răn đe Trung Quốc Chứng khoán: 150 nhà đầu tư toàn cầu đến Việt Nam tìm cơ hội "giải ngân" Thư Giản: Sự chậm trễ của ứng dụng khoa học VH & TG: Nhật Bản cân nhắc vũ khí hạt nhân Thư Giản: Khải Huyền và Đại Đào Thải Chứng khoán: PHẦN 3: THỊ TRƯỜNG THĂNG HOA XUẤT TƯỚNG NHỮNG 'ANH HÙNG' Chứng khoán: VN-Index mất gần 30 điểm Thư Giản: CHẾT KHÔNG PHẢI VÌ LÀM DỞ, MÀ VÌ BỊ BÓP CỔ Thư Giản: “KHÔNG PLAN” CHÍNH LÀ NGHÈO — VÀ NGHÈO THÌ CĂNG THẲNG Chứng khoán: Mía đường Cao Bằng (CBS) chốt quyền trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 30% Chứng khoán: CHỨNG KHOÁN QUÝ 4.2025 Kì 2 Thư Giản: 14 định luật ngầm BĐS: Đất ở ổn định 20 năm, không có khiếu kiện, tranh chấp có được cấp sổ đỏ hay không
Bài viết
Phân tích hệ thống ngân hàng Việt Nam 2026

    Hiện tình của hệ thống ngân hàng Việt Nam và khả năng hỗ trợ phát triển kinh tế

    Phân biệt ngân hàng điện tử, ngân hàng số và ngân hàng truyền thống ...

    Mục tiêu của Chính Phủ Việt Nam là phát triển kinh tế với một mức độ cao và nỗ lực giữ được mức tăng trưởng GDP 6.7% cho năm 2016. Động cơ phát triển kinh tế là doanh nghiệp và vì vậy việc đầu tiên của chính phủ Nguyễn Xuân Phúc là hội thảo động viên và hứa hỗ trợ doanh nghiệp trên con đường phát triển.

    Câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp cần hỗ trợ gì nhất ? Như mọi doanh nghiệp trên thế giới và đặc biệt cho Việt Nam, doanh nghiệp cần vốn, vốn lưu động để tiếp tục kinh doanh và vốn đầu tư để phát triển trong tương lai. Nét đặc biệt của doanh nghiệp việt Nam là rất ít vốn tự có, có bao nhiêu đều đổ vào lúc ban đầu mới thành lập doanh nghiệp, kinh doanh trong hiện tại và tương lại đều trông chờ vào vay mượn và vay ngân hàng là chính – lãi suất trên tín dụng ‘đen’ ở cái mức không tưởng, nếu doanh nghiệp đụng vào và tự chôn vùi tương lai – vì vậy muốn doanh nghiệp sống - từ đầu năm tới nay 29.000 doanh nghiệp đã giải thể - thì ngân hàng phải sống và ngân hàng phải chịu đựng được rủi ro cho vay doanh nghiệp.

    Muốn ngân hàng ngân hàng hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp thì hai điều kiện căn bản phải đươc hội tụ.

    Thứ nhất, tình trạng tài chính của ngân hàng phải đươc khả quan để phát triển tín dung. Nói một cách khác, ngân hàng phải có nguồn vốn phù hợp để cho vay và rủi ro của toàn bộ tín dụng không đe dọa sự sống còn của ngân hàng.

    Thứ nhì là ngân hàng phải có một quy mô nào đó để có thể qua khỏi những thời kỳ suy thoái kinh tế toàn bộ, khi một số lớn khách hàng hay khi một vài khách hàng lớn gặp khó khăn và không còn khả năng trả nợ, điển hình như Habubank và tập đoàn Vinashin.

    Vậy ngân hàng Việt Nam hiện có hội tụ đủ điều kiện để hỗ trợ doanh nghiệp hay không ?

    Về điều kiện tài chính, trên phương diện huy động vốn, thì từ khi kinh tế suy thoái, những cơ hội đầu tư ở những kênh khác đều khó khăn nên nguồn vốn của dân cư đổ trở lại ngân hàng. Nhưng suy thoái kinh tế đã phát sinh ra những khoản nợ xấu rất đáng sợ. Thử tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trình quốc hội là vào thời điểm 2012 nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng đạt mức 19,2% trên tổng tín dụng. Từ đó tới nay, những phương án được áp dụng để giảm nợ xấu chỉ có tính cách giấy tờ và kế toán, Ngân hàng không nhận được một đồng tiền thực nào để bù lắp và cái lỗ hổng to tướng của những khoản vay không được chi trả. Sự thể này đã đưa đến tình trạng ngân hàng mất hết vốn và phải bán lại cho Nhà nước với giá 0 đồng cũng như những ngân hàng khác thâm hụt trầm trọng ngay trên vốn điều lệ.

    Trên giấy tờ, con số chính thức về nợ xấu chỉ còn 2,9%, nhưng trên thực tế, nếu chưa rót một đồng tiền thật nào vào hệ thống thì con số 19,2% chắc vẫn còn giữ nguyên, nếu không phải là tăng thêm vì khó khăn của doanh nghiệp Việt Nam càng ngày càng gia tăng vì suy thoái kinh tế trong và ngoài nước. Không thể trong 3 năm qua ngân hàng đã có khả năng tự cứu và xử lý 85% nợ xấu, lợi nhuận ngân hàng có nhiều đến đâu đi nữa cũng không thể tự bù lắp cái hố sâu nợ xấu. Cũng phải nói tình trạng lợi nhuận của ngân hàng cũng không được tốt, nếu cứ chiếu theo các báo cáo tài chính thì ngân hàng nào cũng sinh lời và lợi nhuận có khi đạt những mức kỷ lực. Nhưng chỉ cần liếc nhìn vào bảng ‘ngân lưu’ (dòng tiền thực), thì sẽ thấy một phần sự thật phũ phàng. Không phải là ngân hàng khai man, ngân hàng chỉ tận dụng và khai thác những gì luật pháp và quy định cho phép, vả lại tất cả các báo cáo tài chính đều được những công ty kiểm toán hàng đầu thế giới xác nhận – cũng phải nói Kiểm toán không xác thực mà chỉ xác nhận là bản báo cáo phù hợp với luật lệ hiện hành.

    Đặc trưng của hệ thống ngân hàng Việt Nam là số lượng rất cao, nhất là từ khi ngân hàng nông thôn được biến thành ngân hàng thành thị, nhưng lại rất khiêm nhượng về quy mô. Ngay cả khi ta lấy ‘tứ đại ngân hàng’, so sánh với ngân hàng thế giới cũng rất ư là nhỏ bé. Cái quan trọng là với quy mô hiện tại, ngân hàng có phụng sự được một cách đắc lực nền kinh tế hay không ? Trong những năm kinh tế phát triển mạnh, độ tăng trưởng tín dụng, bình quân là vào khoảng 50-60% /năm, có ngân hàng tăng lên đến 165%, những mức tăng trưởng tột đỉnh này chứng tỏ là ngân hàng Việt Nam chưa đủ quy mô để đáp ứng nhu cầu vốn khi kinh tế phát triển mạnh – Trên thế giới, cho một hệ thống ngân hàng ổn định, tăng trưởng tín dụng nội địa chỉ tương đương với mức tăng trưởng GDP – Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế suy thoái, doanh nghiệp giải thể hàng loạt, nhiều ngân hàng nhỏ lẻ lâm vào tình trạng bi đáp, rồi bị thâu tóm, bị sáp nhập, bị mua lại với giá 0 động. Hiển nhiên quy mô ngân hàng việt Nam rất khó chống đỡ những cú sốc của nền kinh tế.

    Do vậy, mặc dù vốn huy động có dư, hệ thống ngân hàng chưa đủ khả năng để hỗ trợ tích cực doanh nghiệp, xác suất khoản vay trở thành nợ khó đòi, rồi thành nợ xấu còn quá cao, và ngân hàng ko thể ôm thêm nợ xấu nếu những khoản nợ xấu cũ vẫn chưa được xử lý. Lãnh đạo ngân hàng cũng không bao giờ quên là nhiệm vụ trọng yếu của họ là bảo vệ người gửi tiền. Nếu Nhà nước nâng cao tiêu chí tăng trưởng tín dụng, thì ngân hàng cũng sẽ tuân thủ, nhưng họ sẽ chọn những phân khúc nào kém rủi ro nhất để cho vay, mua ồ ạt trái phiếu chính phủ hay đổ xô vào lãnh vực tín dụng tiêu dùng.

    Tóm lại, muốn kinh tế quốc gia phát triển mạnh phải có một nền tảng doanh nghiệp mạnh và muốn có doanh nghiệp mạnh phải có một hệ thống ngân hàng mạnh. Do đó việc cấp bách hiện nay là cứu ngân hàng. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều làm điểu này trước tiên khi khủng hoảng kinh tế đang đe dọa

    Vì sao Ngân hàng Việt nam lâm vào tình trạng hiện tại ?

    Trong giai đoạn kinh tế phồn thịnh, ngân hàng đã vươn lên với một tốc độ kinh hoàng, mỗi năm bình quân tổng tài sản nhà băng tăng gấp 2, gấp 3 lần (kỷ luc là các ngân hàng nông thôn khi chuyển đổi thành ngân hàng thành thị, tổng tài sản tăng gấp 10 hay 15 lần mỗi năm. Với sức tăng trưởng đó, nền tảng kinh doanh ngân hàng không theo kịp.

    Thứ nhất là vốn, trên nguyên tắc vốn chủ sở hữu phải tăng theo tăng trưởng của tổng tài sản, nhưng tăng vốn không phải là chuyện dễ cho nên có sự trì trệ, đến nỗi Nhà nước phải định ra vốn tối thiểu của một ngân hàng là 3000 tỷ, ngân hàng cũng không gom nổi và phải xin gia hạn một năm, tới năm sau, vốn góp được cũng chỉ trên giấy tờ với những kết nối ‘sân sau’ với ngân hàng, doanh nghiệp khác, vốn thiếu vẫn hoàn thiếu.

    Thứ nhì là con người, từ lãnh đạo đến nhân viên đến từ những ngành nghề khác hoặc mới ra trường nên thiếu căn bản về quản lý tài chính, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản lý rủi ro không có.

    Thứ ba là hệ thống quản lý, khi ngân hàng to lên gấp 5 gấp 10 hệ thống điều hành, kiểm soát theo không kịp và có những sơ hở và lỗ hổng nghiêm trọng. Và ngân hàng đã vung tay quá trán, đầu tư, cho vay quá sức chịu đựng rủi ro của ngân hàng và là đất dụng võ của một vài phần tử bất lương, chưa kể những quyết định thiếu trách nhiệm của một số lãnh đạo.

    Để rồi sau 4 năm kinh tế suy thoái, rủi ro tín dụng trở thành núi nợ xấu, những lỗi lầm quản lý hiện ra qua những thất thoát khủng lồ. Hiện tại một số ngân hàng mất hết vốn đã lộ ra mặt và phải bán lại cho Nhà nước với giá 0 đồng, tất nhiên một số ngân hàng khác cũng bị mất một phần vốn, nhưng thông tin chưa lọt ra ngoài. Cho toàn hệ thống thì lợi nhuận chỉ thể hiện trên giấy, tiền thực chẳng có là bao, đến nỗi thiếu tiền mặt, nổi lên phong trào trả cổ tức bằng cỗ phiều. Ngay hai ngân hàng lớn như BIDV và Vietinbank, khi Bộ tài chính đòi thanh toán cổ tức bằng tiền mặt cho ngân sách chính phủ cũng gặp khó khăn và phải nhờ Ngân hàng Nhà nước can thiệp.

    Công ty mua bán nợ xấu VAMC thực sự đã giải quyết được gì?

    Trên giấy tờ thì nợ xấu đã được xử lý rất tốt và phần lớn là nhờ VAMC. Bề mặt của hệ thống ngân hàng rất tốt, các quy định về an toàn vốn, về quản lý rủi ro, về thanh khoản đều được thực thi. Nợ xấu chỉ ở mức 2.9%,vốn điều lệ đầy đủ cả. Nhưng thực tế thì lại không phải vậy, ngay trên vấn đề nợ xấu, Các Ngân hàng nói là ‘bán’ những khoản nợ cho Công ty mua bán nợ VAMC, nhưng thực tình thì ngân hàng chỉ ủy thác cho VAMC quản lý khoản nợ, Ngân hàng vẫn chịu hoàn toàn trách nhiệm trên khoản nợ, hàng năm vẫn phải trích lập dự phòng và nếu sau năm năm VAMC không bán được nợ xấu, sẽ trả lại ngân hàng. Khác hợp đồng ủy thác là với tờ ‘biên nhận’ của VAMC ngân hàng có thể ra Ngân hàng nhà nước cầm cố và vay tiền, nhưng thực sự đó là tiền vay, không thể lầm lẫn với vốn tự có. Điểm thứ hai, là sau khi ‘ủy thác ‘, NHNN cho phép ngân hàng bỏ khoản nợ xấu ra khỏi bảng cân đối, nói một cách khác không coi nó là món nợ xấu nữa, nhưng đây là một quyết định hoàn toàn hành chính, một nhà quản lý ngân hàng chân chính không thể dựa vào những quy tắc hành chính để điều hành ngân hàng mà phải nhìn vào thực tế. Ngân hàng vẫn hoàn toàn chịu trách nhiệm trên khoản nợ xấu và là yếu tố quan trọng cho lãnh vực quản lý rủi ro. Do vậy, nợ xấu dù đã bán cho VAMC vẫn là lưỡi gươm Damocles trên đầu Ngân Hàng, và ngân hàng sẽ rất khó lãnh thêm rủi ro khi nhận cho doanh nghiệp vay tiền. Hạn kỳ sau 5 năm không bán được nợ VAMC sẽ trả lại ngân hàng, lại là một mối lo rất lớn cho ngân hàng. Bình quân thì chỉ còn 2 năm nữa là đến hạn kỳ, xác suất không bán được khoản nợ là rất cao, vì không đủ thời gian sửa đổi luật pháp, vì thị trường mua bán nợ chưa thành hình và vì các bên mua tiềm năng chưa mấy mặn mà mua lại nợ xấu. Trong vòng 2 năm nữa ngân hàng chưa đủ khả năng trích lập dự phòng toàn bộ những khoản nợ xấu, khi nhận trả lại những khoản thì không chóng thì chầy sẽ cấn vào vốn tự có của ngân hàng. Tương lai ngân hàng sẽ ra sao ?

    Vậy ta phải làm gì để xử lý nợ xấu, cứu ngân hàng

    Nhà nước đã ý thức từ lâu những yếu kém của hệ thống ngân hàng. Ngay năm 2012, nghị định 241 đã lên kế hoạch tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, và năm 2013, đã ký Quyết định 843, xử lý nợ xấu và thành lập công ty VAMC.

    Để cứu ngân hàng. phương án thành lập một công ty mua lại nợ xấu của ngân hàng là một trong những phương án thường được áp dụng trên thế giới, Công ty mua thật gói nợ xấu, trả bằng tiền và ngân hàng lấy tiền đó bù lắp vào lỗ hổng tài chính rồi lại tiếp tục được nhiệm vụ hỗ trợ nền kinh tế. Tất nhiên tiền mua là lấy từ ngân sách nhà nước, nói một cách khác, lấy tiền của dân bù đắp vào lỗ lã của ngân hàng. Ý tưởng này Chính phủ, trước Quối Hội đã khẳng định không bỏ một đồng của dân cứu ngân hàng. Do đó mới có ‘sáng kiến’ mua lại và xóa nợ xấu trên giấy tờ như trình bầy ở trên.

    Sau 3 năm hoạt động, mọi người đều công nhận là ‘sáng kiến’ này thiếu thực tế và cơn bệnh của ngân hàng với thời gian còn nguy cập hơn. Vậy ta phải làm gì ? Chính phủ không thể, một sớm một chiều quyết định giải thể VAMC và nghĩ đến phương án khác. Nhà nước phải khai thác những gì VAMC đã làm, đồng thời rót tiền thật vào ngân hàng. Giản dị nhất là VAMC mua đứt và trả tiền mặt món nợ xấu với mức giá có thể bán lại trên thị trường nợ xấu, giá này được thẩm định bởi một cơ quan độc lập. Ngân hàng có thể vay, dài hạn, nhà nước, chênh lệch giữa mệnh giá của món nợ xấu và giá bán cho VAMC, với những điều kiện thật ưu đãi (kỳ hạn 20 năm, lãi suất tương đương với lãi suất Nhà nước phải trả khi phát hành trái phiếu để tài trợ phương án này).

    Với phương án này, nguyên tăc không dùng tiền của dân để mua nợ xấu ngân hàng được tuân thủ, chính phủ chỉ đứng ra giúp ngân hàng tiết kiệm thời gian và công sức để đòi nợ bán tài sản thế chấp và ứng tiền trước. Chính phủ tất nhiên trong phương án này chịu rủi ro khi bán lại nợ trên thị trường, sửa đổi bổ xung luật pháp để tạo dựng được thị trường mua bán nợ xấu và chịu trách nhiệm thu xếp vốn. Để tài trợ phương án này Nhà nước có thể kêu gọi sự trợ giúp của những tố chức Quốc tế như WB, IMF, ADB ;.. hoặc đưa thẳng lên thị trường tài chính quốc tế. Tình thế lãi suất trên thế giới hiện tại rất thấp. Những quốc gia có đồng tiền mạnh, lãi suất trái phiếu chính phủ xuống mức âm. Bình quân thi cũng nằm ở mức gần bằng không. Việt Nam bị Fitch (công ty xếp hạng tín dụng) xếp hạng BB- , chắc không hưởng được mức lãi này nhưng cũng sẽ rất thấp. Tuy nhiên, khi phát hành trái phiếu, tất nhiên mức nợ công sẽ gia tăng và sẽ vượt hạn mức 65% GPD cam kết với quốc hội. Thiết nghĩ, nợ công chỉ nguy hiểm khi quốc gia liên quan không có khả năng trả nợ, cho phi vụ nói trên, khả năng trả nợ nằm ở chỗ bán lại nợ xấu trên thị trường với mức giá đã được chuyên gia độc lập thẩm định.

    Với phương án này, ngân hàng lấy lại được khả năng tài chính và trên nguyên tắc đảm nhiệm cái bổn phận của ngân hàng trên phương diện kinh tế vĩ mô là chuyển tiết kiệm quốc gia qua đầu tư, đó là công thức căn bản để phát triển kinh tế. Nói là trên nguyên tắc, vì trong những năm qua, dòng tiền tiết kiệm không chẩy vào đầu tư mà lại chẩy vào đầu cơ. Do vậy phương án mua đứt nợ xấu phải đi cùng với một chuỗi các biên pháp ngăn chặn sự bành trường của thị trường đầu cơ và ngăn chặn ngân hàng rót tiền và thị trường này.

    Còn về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ?

    Như đã nói ở trên, nghị định 241 đã được phê duyệt hồi tháng 3, 2012 và đặt ra mục tiêu, đến năm 2017, tức là còn 6 tháng nữa sẽ chỉ còn 20 ngân hàng hoạt động. Về phương diện tái cơ cấu, ta đã làm được những gì ? Nhà nước tự hào đã xử lý được 9 ngân hàng yếu, giảm bớt 5 ngân hàng và số lượng NHTMCP chỉ còn 37 ngân hàng. Những ngân hàng thoát thai từ sáp nhập, thôi tóm hay tự tái cấu trúc vẫn còn yếu kém và quy mô vẫn còn rất nhỏ, những ngân hàng quốc doanh bị bắt buộc thâu tóm hay quản lý ngân hàng yếu kém cũng trở nên yếu hơn, còn những ngân hàng bị mua lại 0 đồng, không còn vốn điều lệ thì không thây nói gì và lấy tiền ở đâu để tái cấp vốn. Tóm lại đó chỉ là những phương án nhất thời, ngăn chặn sự vỡ lở của cả hệ thống chứ không chủ đích xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh cho tương lai.

    Giảm thiểu số lượng ngân hàng xuống còn 20, không phải là mục tiêu mà chỉ là hậu quả của một phương án, muốn có ngân hàng quy mô, gom những ngân hàng nhỏ lại, do đó số lượng ngân hàng sẽ bớt đi.

    Tuy nhiên khi gom những ngân hàng nhỏ và yếu lại với nhau thì sẽ có một nhà băng to hơn nhưng quy mô yếu kém cũng lớn hơn. Nếu sáp nhập những ngân hàng nhỏ vào một ngân hàng lớn thì ngân hàng lớn sẽ yếu đi.

    Căn bản, một ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trên tiền và cái phần vốn chủ sở hữu là điểm tối quan trọng vì nó sẽ bảo đảm cho ngân hàng vượt qua những thời điểm khó khăn và đối mặt với rủi ro kinh doanh nói chung. Vốn điều lệ hay vốn tính theo điều lệ của hiệp ước quốc tế Basel, mà Việt Nam chưa theo kịp chỉ là những móc chốt tối thiểu, ngân hàng phải có vốn tương xứng với lãnh vực kinh doanh tài chính, với thị trường và nhất là với mức độ rủi ro. Tình hình vốn của ngân hàng hiện nay có 2 điểm tiêu cực. Thứ nhất, quản ly rủi ro vẫn còn ở giai đoạn phôi thai, thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm và cách tính toán chưa được quy định rõ rệt, nên mỗi ngân hàng tính một kiểu làm sao giảm thiểu mức rủi ro và vốn phải có. Điểm thứ nhì là vốn chỉ thể hiện trên sổ sách, vốn thực thụ thì nó tùy thuộc vào những sở hữu chéo, những trò chơi sân trong, sân ngoài và những ‘biến ảo’ kế toán.

    Vì vậy, tai cơ cấu ngân hàng không phải là chỉ hợp nhất một số ngân hàng mà phải làm sao rót thêm vốn và quy mô ngân hàng phải đi đôi với quy mô vốn ‘thực’.

    Nghị định 241, cũng nêu rõ là tái cơ cấu ngân hàng sẽ dựa trên tự nguyện của ngân hàng. Chính sách này rất phóng khoáng nhưng thực tế là một rào cản lớn trong việc thực thi nghị định :

    Thứ nhất trên căn bản tự nguyện, thì chỉ có những ngân hàng hoàn toàn không còn một chút hy vọng tồn tại mới tự nguyện ‘bán mình’, chịu để thâu tóm, sáp nhập. Còn nước, còn tát, ta vừa chứng kiến những ngân hàng mất hết vốn vẫn có sống cho tới lúc bị ép buộc bán với giá 0 đồng.

    Thứ nhì, bên thâu tóm, dù là trong ngành hay ngoài ngành biết thừa tình trạng ngặt nghèo của ngân hàng và sức đàm phán yếu kém, nên chèn ép bên bán và trong đó có những thu xếp vốn mua không mấy là chính trực.

    Thứ ba, đây là cơ hội tốt cho các đại gia ngoại ngành thâu tóm ngân hàng với mục đích lấy vốn huy động của ngân hàng hay lấy danh nghĩa ngân hàng vay mượn chỗ khác để tài trợ cho những dự án riêng tư. Trường hợp Ngân hàng Xây dựng là điển hình.

    Kết quả, ngân hàng thoát thai từ tự nguyện tái cơ cấu, chỉ có cái vỏ bề ngoài, thục chất là rất yếu và thiếu vốn ‘thực’. Tương lai không đảm bảo.

    Như vậy muốn có một hệ thống ngân hàng mạnh, có quy mô, nhà nước phải đứng ra thực hiện công cuộc tái cấu trúc. Tháng 3, 2014 thủ tướng chính phủ đã ra quyết định 363/QĐ-TTg thành lập Ban chỉ đạo liên ngành triển khai đề án cơ cấu lại hệ thống ngân hàng do phó thủ tướng Vũ văn Ninh đứng đầu. Tuy nhiên ban chỉ đạo này chỉ có trách nhiệm phối hợp các bộ ngành, tham mưu, đề xuất các phương án chứ không có trách nhiệm thực hiện. Có lẽ nên biến Ban chỉ đạo này thành một ủy ban đặc nhiệm (task force) có thực lực đề đưa ra lộ trình, chương trình hành động và ngân sách để thực hiện cuộc tái cấu truc.

    Nói đến ngân sách, vì tái cấu trúc, như đã nói ở trên, không phải chỉ sắp xếp lại đội ngũ ngân hàng mà phải tạo sức mạnh cho đội ngũ mới và đổ tiền tươi vào hệ thống. Như đối với phương án xử lý nợ xấu, Nhà Nước cũng không thể lấy tiền của dân để xây dựng hệ thống ngân hàng và Nhà Nước cũng không thể góp vốn vào hệ thống ngân hàng vì như vậy là đi ngược lại chính sách dịch chuyển qua cơ chế thị trường các doanh nghiệp nhà nước. Như vậy phương án hợp lý nhất là Nhà Nước cho vay Ngân hàng dưới dạng trái phiếu chuyển đổi. Tới kỳ hạn, khi ngân hàng đã đủ mạnh, trái phiếu sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu và sau đó Nhà nước sẽ bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cho những nhà đầu tư quốc nội và nước ngoài, khách đầu tư mục tiêu là thị trường đại chúng, như vậy tránh được sự chi phối của cá nhân hay tổ chức nào trên ngân hàng.

    Vấn đề chính là lấy tiền ở đâu ra để tài trợ ngân hàng. Phương án duy nhất vẫn là vay mượn trên thị trường tài chính thế giới. Như vậy, nợ công lại một lần nữa tăng thêm, tuy nhiên món nợ này có sẵn phương cách trả lại nợ gốc, và các nhà tài chính sẽ dễ có niềm tin.

    Tái cơ cấu ngân hàng là việc cấp bách, một mặt hệ thống ngân hàng mạnh sẽ hỗ trợ thực sự nền kinh tế trên con đường phát triển ở mức độ cao. Mặt khác, từ 2018, hội nhập quốc tế (*) sẽ mở cho Việt Nam một thị trường, "nặng" 2/3 GDP thế giới. Doanh nghiệp cần sự hỗ trợ tài chính mạnh mẽ để tiếp cận thị trường quốc tế và bảo vệ thị trường quốc nội.

    (*) Xem loạt bài Hội nhập quốc tế, cơ hội và thách thức của tác giả trên mặt báo này.

    Phạm Nam Kim - Chuyên gia tài chính, Thuỵ Sĩ.

    Đây là bản phân tích về ngân hàng vn cuối 2016 .

    Quan điểm ,cách phân tích theo chuẫn định chế tài chính phương tây ..

    Mặc dầu số liệu so với 2025 đã hoàn toản khác nhứng tính chất ,vấn đề có lẽ không quá thay đổi .

    Hãy dùng data 2025 để phân tích

    eo Phó Thống đốc, bước sang năm 2026, kinh tế thế giới và khu vực được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và bất định: tăng trưởng chậm, căng thẳng địa chính trị kéo dài, xu hướng phân mảnh thương mại toàn cầu, tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, cùng với quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ. Theo dự báo mới đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2026 được dự báo ở mức khoảng 3,1%, thấp hơn giai đoạn trước đại dịch COVID-19. Lạm phát toàn cầu tuy có xu hướng hạ nhiệt nhưng chưa thực sự bền vững. Trong khi triển vọng điều hành CSTT của các Ngân hàng Trung ương, nhất là Mỹ vẫn khó dự báo, tiềm ẩn tác động đến thị trường quốc tế cũng như đồng tiền của các quốc gia mới nổi và đang phát triển.

    Ở trong nước, lạm phát tiềm ẩn áp lực tăng trong bối cảnh nền kinh tế có độ mở tương đối lớn, giá cả hàng hóa biến động do xu hướng gia tăng về bảo hộ thương mại, chiến tranh thuế quan gây áp lực lên tỷ giá… Thời gian tới, huy động vốn dự báo tiếp tục tăng chậm so với tín dụng và chịu áp lực cạnh tranh từ các kênh khác, trong khi đó nền kinh tế lại dựa vào vốn vay từ hệ thống ngân hàng rất nhiều, đồng nghĩa ngành Ngân hàng sẽ gặp sức ép lớn về cung ứng vốn cho nền kinh tế.

    "Tất cả những yếu tố trên sẽ tạo áp lực, thách thức đối với điều hành lãi suất, tỷ giá của NHNN trong thời gian tới", Phó Thống đốc nhấn mạnh.

    Trong bối cảnh đó, ông Hà cho biết điều hành CSTT của NHNN sẽ tiếp tục kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; đồng thời phát huy bài học kinh nghiệm từ giai đoạn 2021-2025 để có quyết định điều hành đồng bộ các công cụ và giải pháp với thời điểm và liều lượng hợp lý, phù hợp với bối cảnh thực tiễn. CSTT tiếp tục tăng cường phối hợp với CSTK và các chính sách vĩ mô khác để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

    Đồng thời, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; tăng cường rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, áp dụng chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đảm bảo chặt chẽ, an toàn. Thể chế pháp luật ngân hàng cũng tiếp tục được hoàn thiện để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho điều hành CSTT, thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ và hội nhập quốc tế.

    Song song với đó, NHNN cũng chú trọng thực hiện các giải pháp như nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiểm tra các lĩnh vực rủi ro, nợ xấu, đảm bảo an toàn và lành mạnh hệ thống TCTD, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng cường năng lực quản trị và bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán.

    "Những giải pháp này sẽ tạo nền tảng ổn định, hỗ trợ điều hành CSTT hiệu quả, duy trì thanh khoản, ổn định tỷ giá, đồng thời đảm bảo niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư", Phó Thống đốc cho hay.

    Chào ông Henry Quang Vu,

    Rất thú vị khi ông đặt hai bản phân tích cách nhau đúng một thập kỷ (2016 và 2026) để soi chiếu. Bản phân tích của chuyên gia Phạm Nam Kim vào cuối năm 2016 đã bắt đúng những "căn bệnh kinh niên" của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời điểm đó: nợ xấu thực chất bị che lấp bởi VAMC, sở hữu chéo và vốn ảo.

    Dựa trên dữ liệu hiện tại vào tháng 2 năm 2026, tôi xin gửi tới ông bản phân tích so sánh để thấy rõ cái gì đã thay đổi và cái gì vẫn còn là "lưỡi gươm Damocles" như cách nói của tác giả.


    1. Nợ xấu: Từ "Kế toán trên giấy" đến "Áp lực thực tế"

    • Năm 2016: Nợ xấu chủ yếu nằm tại VAMC dưới dạng trái phiếu đặc biệt. Đó là một cách "nhốt" nợ để làm đẹp bảng cân đối kế toán.

    • Năm 2026: Nợ xấu hiện nay mang hình thái mới. Sau giai đoạn đại dịch và sự đóng băng của thị trường bất động sản (2023-2025), nợ xấu không còn chỉ là vấn đề kỹ thuật. Áp lực trích lập dự phòng hiện nay rất thực tế. Dù các ngân hàng đã mạnh hơn về nội lực, nhưng "cục máu đông" bất động sản vẫn là tác nhân chính khiến nợ xấu duy trì ở mức cao hơn kỳ vọng.

    2. Vốn điều lệ và Quy mô: Sự lột xác về lượng nhưng thách thức về chất

    Ông Phạm Nam Kim từng lo ngại về mức vốn 3.000 tỷ đồng "còn không gom nổi".

    • Năm 2026: Các ngân hàng "tứ đại" (Big 4) và nhóm cổ phần tư nhân lớn (Techcombank, VPBank, MB) đã có mức vốn điều lệ lên đến hàng chục, thậm chí gần trăm nghìn tỷ đồng.

    • Thực tế: Hệ thống đã áp dụng chuẩn Basel II và đang tiến tới Basel III. Tuy nhiên, như ông dự đoán, tình trạng "sở hữu chéo" dù đã giảm nhưng vẫn tinh vi hơn, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngân hàng và các tập đoàn bất động sản "sân sau" – vốn là tâm điểm của các cuộc thanh tra giám sát trong năm 2024-2025.

    3. Khả năng hỗ trợ phát triển kinh tế

    Trong văn bản ông cung cấp, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nêu rõ một thực trạng năm 2026: Huy động vốn tăng chậm hơn tín dụng.

    Đặc điểm Giai đoạn 2016 Giai đoạn 2026
    Động lực Phục hồi sau khủng hoảng nợ xấu cũ. Chuyển đổi số, tín dụng xanh.
    Thách thức Nợ xấu tiềm ẩn, vốn ảo. Căng thẳng địa chính trị, tỷ giá áp lực.
    Kênh dẫn vốn Lệ thuộc hoàn toàn vào ngân hàng. Thị trường trái phiếu vẫn đang hồi phục sau sự cố 2022.

    Nhận định của tôi: Hệ thống ngân hàng năm 2026 đã "lì đòn" hơn rất nhiều so với thời ông Phạm Nam Kim phân tích. Tuy nhiên, cái bẫy "kinh tế thâm dụng vốn vay" mà ông Kim nhắc đến vẫn chưa thể giải quyết. Doanh nghiệp Việt Nam năm 2026 vẫn thiếu vốn tự có và vẫn nhìn vào ngân hàng như nguồn sống duy nhất.

    4. Điểm mới của năm 2026: Biến đổi khí hậu và Số hóa

    Bản phân tích 2016 chưa nhắc đến "Tín dụng xanh" hay "Rủi ro công nghệ". Đến năm 2026, đây là hai yếu tố sống còn:

    • Số hóa: Giúp giảm chi phí vận hành (như ông Kim mong muốn về hiệu quả quản lý), nhưng lại tạo ra rủi ro an ninh mạng cực lớn.

    • Biến đổi khí hậu: Ngân hàng hiện nay phải tính toán rủi ro khi cho vay các dự án tại Đồng bằng sông Cửu Long – nơi chịu ảnh hưởng nặng nề của xâm nhập mặn.


    Kết luận

    Phân tích của ông Phạm Nam Kim năm 2016 rất có giá trị về mặt phương pháp luận. Những kiến nghị về việc "rót tiền thật" và "mua đứt nợ xấu" thực tế đã được Chính phủ thực hiện một phần thông qua việc cho phép các ngân hàng giữ lại lợi nhuận để tăng vốn thay vì nộp ngân sách, và sửa đổi Luật Các Tổ chức Tín dụng (có hiệu lực từ 2024).

    Hệ thống ngân hàng 2026 không còn ở trạng thái "nguy cấp" như 2016, nhưng nó đang ở trạng thái "thận trọng cực độ". Với lãi suất quốc tế vẫn neo cao và rủi ro địa chính trị, ngân hàng khó có thể "vung tay" hỗ trợ doanh nghiệp một cách ồ ạt nếu không có sự phối hợp của chính sách tài khóa (đầu tư công).

    THỐNG KÊ TRUY CẬP
    • Đang online 15
    • Truy cập tuần 1053
    • Truy cập tháng 28706
    • Tổng truy cập 576506