Tham vọng đô thị thông minh của TP.HCM gây tranh cãi khi kẹt xe, ngập nước chưa được giải quyết. Chuyên gia nói gì về “bẫy kỳ vọng”?
Giữa làn sóng chuyển đổi số và những tuyên bố đầy tham vọng, TP.HCM đang bước vào cuộc đua xây dựng đô thị thông minh với mục tiêu lọt Top 50 toàn cầu vào năm 2030. Nhưng khi những con số ấn tượng và khẩu hiệu công nghệ liên tục được nhắc đến, một thực tế không thể phủ nhận vẫn tồn tại song song: kẹt xe kéo dài, ngập nước sau mỗi cơn mưa và những thủ tục hành chính chưa thực sự “thông minh” trong trải nghiệm của người dân. Phải chăng, giấc mơ đô thị thông minh đang được vẽ nên trên một nền móng còn nhiều bất cập?

TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Thay vì bị ám ảnh bởi một con số xếp hạng mơ hồ, tôi cho rằng TP.HCM nên chọn một phương pháp tiếp cận thực dụng hơn: tập trung nguồn lực vào những tiêu chí thông minh có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số - Ảnh: NVCC
Câu hỏi ấy không chỉ mang tính phản biện, mà còn chạm đến cốt lõi của bài toán phát triển đô thị: nên bắt đầu từ tham vọng toàn cầu hay từ những vấn đề đời sống thiết thực? Trong cuộc trao đổi thẳng thắn với phóng viên Một Thế Giới, TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn – chuyên gia quy hoạch đô thị với nhiều kinh nghiệm quốc tế – đã đưa ra những góc nhìn sắc sảo, thậm chí không né tránh các điểm nghẽn mang tính hệ thống.
“Đô thị thông minh phải bắt đầu từ việc giải quyết những nhu cầu thiết thực nhất của người dân, thay vì những con số xếp hạng đầy hào nhoáng”, ông nói.
- Thưa ông, con số "Top 50 đô thị thông minh toàn cầu" được đưa ra như mục đích kiêu hãnh cho TP.HCM trong vài năm tới. Dưới góc nhìn của một chuyên gia quy hoạch thực tiễn, ông nhìn thấy sự tự tin hay sự mạo hiểm trong mục tiêu này?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Khi soi chiếu khát vọng lọt vào nhóm 50 đô thị hàng đầu thế giới vào năm 2030 dưới lăng kính khoa học, tôi phải thẳng thắn rằng bản đề án hiện tại đang bộc lộ sự xa rời thực tế. Chúng ta cần hiểu rằng, thứ hạng của một đô thị không phải là thứ có thể đạt được bằng các mệnh lệnh hành chính chủ quan hay những quyết tâm chính trị trên giấy. Quyết định này thuộc về các tổ chức đánh giá quốc tế dựa trên những bộ tiêu chí khắt khe và minh bạch. Việc đặt ra nhiệm vụ thăng hạng trong khi khoảng cách hiện tại còn quá xa mà thiếu đi một kế hoạch hành động chi tiết thì thực chất đó chỉ dừng lại ở mức độ mong muốn đơn thuần.
Một đề án khoa học đúng nghĩa phải bắt đầu bằng việc nhận diện đối thủ và tiêu chuẩn. Chúng ta sẽ chinh phục bộ tiêu chí nào? Những đô thị đang ở Top 50 có trình độ hạ tầng và công nghệ ra sao để chúng ta so sánh trực diện?. Hơn nữa, thế giới không đứng yên để chờ chúng ta. Trong lúc TP.HCM nỗ lực, các thành phố khác cũng không ngừng nâng cấp. Ngay cả những đối thủ ngang hàng cũng có thể bứt phá, vô tình đẩy thứ hạng của chúng ta xuống sâu hơn nếu chúng ta không có một lộ trình đột phá.
Thay vì bị ám ảnh bởi một con số xếp hạng mơ hồ, tôi cho rằng thành phố nên chọn một phương pháp tiếp cận thực dụng hơn: tập trung nguồn lực vào những tiêu chí thông minh có khả năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số và khắc phục những điểm yếu "chí mạng" của đô thị. Hãy nhìn vào thực tế, khi một công nhân hay một người không bằng cấp vẫn có thể tạo ra thu nhập cao nếu làm việc hiệu quả, thì một đô thị cũng vậy. Nếu chúng ta kiến tạo được một môi trường sống thực chất, đạt tiêu chuẩn của các đô thị hàng đầu, thì việc đứng ở hạng 50 hay hạng bao nhiêu sẽ không còn là vấn đề quan trọng nữa.
- Vậy theo ông, đâu là những "điểm yếu chí mạng" mà chúng ta cần nhìn thẳng vào trước khi mơ về những vị trí cao trên bản đồ thế giới?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Đó là sự thiếu đồng bộ toàn diện. Hạ tầng số hiện tại vẫn còn nhiều khoảng trống, cơ sở dữ liệu đô thị giữa các ngành hoàn toàn chưa có sự liên thông. Dịch vụ công dù có tiến bộ nhưng vẫn chưa đạt đến độ hoàn thiện để người dân cảm thấy thực sự tiện lợi. Các mảng quản lý thiết yếu nhất như giao thông, môi trường vẫn đang bộc lộ những hạn chế sơ đẳng.
Vì vậy, tôi đề xuất thành phố nên thiết lập các mục tiêu trực quan và có thể đo lường được thay vì chạy theo thứ hạng. Ví dụ, chúng ta hãy cam kết đến năm 2030, 100% dịch vụ hành chính phải thực hiện trực tuyến, hoặc phủ kín 100% thông tin quy hoạch số hóa đa ngành dưới dạng bản đồ số toàn diện. Khi người dân được thụ hưởng những giá trị này, đó chính là lúc thành phố thực sự trở nên thông minh.

Trong Đề án phát triển đô thị thông minh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035, TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 vào Top 50 đô thị thông minh trên thế giới
- Nhiều người vẫn mặc định đô thị thông minh là phải có Wi-Fi miễn phí khắp nơi hoặc thật nhiều ứng dụng trên điện thoại. Phải chăng chúng ta đang hiểu quá đơn giản về khái niệm này?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Sự thông minh của đô thị tuyệt đối không nằm ở những khái niệm vĩ mô hay những màn trình diễn công nghệ xa vời. Hiểu một cách cốt lõi và thực dụng nhất, đô thị thông minh là việc sử dụng công nghệ số để phục vụ lợi ích thiết thực của người dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sự thông minh này phải được thể hiện qua chất lượng cuộc sống hàng ngày.
Thứ nhất, nó phải giúp người dân đi lại dễ dàng hơn thông qua các công cụ quản lý giao thông minh bạch. Thứ hai, bộ máy hành chính phải vận hành trơn tru đến mức mọi thủ tục đều có thể giải quyết trực tuyến chỉ trong vài ngày. Thật khó có thể gọi là thông minh khi sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính, có những người dân phải di chuyển 50 đến 70 km mỗi ngày chỉ để giải quyết một tờ giấy lộn.
Bên cạnh đó, sự tiện ích phải đi kèm với sự tích hợp. Thay vì ép người dân cài đặt hàng tá ứng dụng cho từng loại dịch vụ, một hệ thống thông minh thực sự chỉ cần một ứng dụng định danh duy nhất. Từ ứng dụng đó, mọi khoản phí từ tiền điện, tiền nước đến phí gửi xe hay trạm thu phí cao tốc đều phải được thanh toán tự động và đồng bộ. Đó mới là cách công nghệ tối ưu hóa thời gian cho xã hội.
- Giao thông luôn là nỗi ám ảnh kinh khủng nhất của người dân TP.HCM. Ông đã từng nhắc đến sự khác biệt giữa tư duy truyền thống và tư duy thông minh trong việc giải bài toán này. Cụ thể sự khác biệt đó là gì?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Đây là một sự đối lập sâu sắc về mặt chiến lược. Theo thói quen quản lý truyền thống, hễ thấy kẹt xe là người ta nghĩ ngay đến việc đập phá mở rộng đường hay xây cầu vượt. Thế nhưng, quy hoạch quốc tế đã chứng minh từ lâu rằng mở rộng đường không phải là giải pháp cứu cánh. Thực tế luôn chỉ ra một nghịch lý: khi đường vừa mở rộng, những người trước đây đi phương tiện công cộng sẽ lập tức quay lại sử dụng xe cá nhân, khiến tình trạng ùn tắc thậm chí còn tồi tệ hơn.
Cách quản lý cũ luôn mang tính bị động, tức là đợi kẹt xe rồi mới cử cảnh sát đến điều phối. Ngược lại, đô thị thông minh sử dụng hệ thống cảm biến để thu thập dữ liệu theo thời gian thực. Khi phát hiện dấu hiệu ùn ứ, hệ thống sẽ tự động điều chỉnh tín hiệu đèn để phân luồng từ xa. Đồng thời, các cảnh báo sẽ được gửi trực tiếp đến điện thoại của người tham gia giao thông, khuyên họ thay đổi lộ trình để tiết kiệm thời gian, dù quãng đường có thể xa hơn một chút.
Hơn thế nữa, hệ thống thông minh còn có khả năng dự báo chính xác khung giờ và đoạn đường sẽ xảy ra kẹt xe để khuyến cáo người dân lên kế hoạch từ sớm. Đối với giao thông công cộng, thay vì dùng vé giấy không để lại dấu vết, hệ thống thẻ điện tử tích hợp ID sẽ ghi lại thói quen của hàng triệu hành khách. Từ "kho báu" dữ liệu khổng lồ này, cơ quan điều hành có thể điều chỉnh linh hoạt tần suất xe buýt, ví dụ từ 10 phút một chuyến xuống còn 3 phút một chuyến vào giờ cao điểm để nhanh chóng giải tỏa hành khách. Đó chính là sức mạnh của dữ liệu lớn so với phương thức vận hành cũ.

Trong khi đó, ngập nước...

... và kẹt xe đang là "căn bệnh" trầm kha của TP.HCM - vốn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống vẫn chưa được giải quyết
- Nếu công nghệ có thể "giải cứu" giao thông, liệu nó có thể làm điều tương tự với bài toán chống ngập - một vấn đề vốn đang chịu áp lực quá tải từ hệ thống cống thoát nước hiện tại?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Chúng ta cần rạch ròi rằng công nghệ thông minh không phải là một chiếc đũa thần có thể giải quyết mọi vấn đề hạ tầng theo cùng một công thức. Giữa giao thông và thoát nước có một sự khác biệt rất lớn về mặt vật lý. Trong giao thông, nhà quản lý có thể linh hoạt điều chỉnh năng lực hạ tầng bằng cách tăng tần suất xe buýt hoặc phân luồng lệch làn.
Tuy nhiên, hệ thống thoát nước lại bị ràng buộc bởi giới hạn vật lý cố định. Khi ống cống đã chôn dưới lòng đất, công nghệ không thể can thiệp để làm nó to ra ngay lúc đang mưa ngập. Vì vậy, vai trò cốt lõi của công nghệ trong bài toán chống ngập là cảnh báo sớm. Nó giúp người dân tránh đi vào khu vực nguy hiểm, ngăn chặn tình trạng chết máy hay kẹt giữa dòng nước lũ.
Dù không thể rút nước ngay lập tức, nhưng lượng dữ liệu về các điểm ngập nặng được tích hợp về trung tâm điều hành sẽ là cơ sở khoa học sắc bén nhất để thành phố lập kế hoạch dài hạn. Đó là căn cứ để quyết định nơi nào cần mở rộng cống ngầm, nơi nào cần xây hồ điều tiết trong tương lai.
- Ông cho rằng đâu là điểm nghẽn lớn nhất đang cản bước tiến của TP.HCM? Có phải do chúng ta chưa đủ tiềm lực công nghệ?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Trái với suy nghĩ của số đông, công nghệ là thứ dễ vượt qua nhất. Chúng ta không cần tốn công nghiên cứu từ con số không mà hoàn toàn có thể mua những giải pháp hiện đại và rẻ nhất thế giới đang áp dụng. Câu chuyện này cũng giống như việc chúng ta nhập khẩu điện thoại di động chất lượng cao với giá rẻ thay vì cố gắng sản xuất nội địa với giá đắt đỏ.
Rào cản thực sự nằm ở ba yếu tố: thể chế, nguồn vốn và nhân lực. Trong đó, điểm nghẽn "sống còn" chính là thể chế và cơ chế phối hợp liên ngành. Một đô thị thông minh không thể vận hành bởi những "ốc đảo" quyền lực độc lập. Không thể có chuyện Sở Xây dựng chỉ biết việc giao thông, còn Sở Môi trường chỉ lo việc của mình. Dữ liệu bắt buộc phải được kết nối xuyên suốt và xử lý đa ngành, nhưng cơ chế hiện tại của chúng ta lại đang thiếu vắng sự liên kết hữu cơ này.
Kế đến là bài toán ngân sách. Việc đầu tư hệ thống cảm biến và hạ tầng số vô cùng tốn kém. Và cuối cùng là nhân lực, khi đội ngũ cán bộ phải nâng cấp tư duy và trình độ để xử lý được những khối dữ liệu phức tạp.

Cùng với đó là thủ tục hành chính chưa thực sự “thông minh” trong trải nghiệm của người dân
- Để giải quyết bài toán ngân sách khổng lồ đó, việc hợp tác công tư (PPP) liệu có phải là chiếc chìa khóa tối ưu?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Chắc chắn rồi, nhà nước không thể ôm đồm dùng ngân sách công cho mọi thứ. Để khơi thông nguồn vốn tư nhân, thành phố cần một khung pháp lý minh bạch và các chính sách ưu đãi về thuế, quỹ đất cho các nhà đầu tư chiến lược.
Cơ chế PPP mang lại lợi ích kép. Trong giao thông, các doanh nghiệp tư nhân với công nghệ cao sẽ đưa ra mức giá vận hành cạnh tranh hơn nhà nước. Trong việc xây dựng dữ liệu, nhà nước có thể yêu cầu các chủ đầu tư dự án bất động sản lớn (ví dụ khu đô thị 500 héc-ta) phải tự bỏ chi phí số hóa toàn bộ bản đồ dự án và bàn giao cho chính quyền. Khi đó, nhà nước chỉ cần thực hiện công đoạn tích hợp cuối cùng để có một bản đồ số hoàn thiện cho toàn đô thị mà không tốn một đồng ngân sách khảo sát nào.
- Trong một đô thị số hóa tốc độ cao, những người yếu thế không thạo công nghệ sẽ ra sao? Làm thế nào để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau, thưa ông?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Đây là một rủi ro hệ thống mà tôi đã từng cảnh báo từ ba thập kỷ trước tại Đại học Stanford. Nguyên tắc bất di bất dịch là: mọi hệ thống thông minh đều phải duy trì song song một phiên bản vận hành "không thông minh".
Sự lệ thuộc 100% vào hệ thống số ẩn chứa thảm họa khủng khiếp. Hãy nhìn vào thực tế tại các bệnh viện lớn ở TP.HCM: khi mạng nội bộ gặp sự cố, quy trình thanh toán tê liệt, hàng ngàn bệnh nhân phải chờ đợi trong hỗn loạn. Trong hoàn cảnh đó, hồ sơ giấy tờ in ấn dự phòng chính là cứu cánh để bác sĩ vẫn có thể kê đơn và phát thuốc bình thường.
Tương tự, trong quy hoạch Metro, tôi luôn nhấn mạnh phải có các tuyến xe buýt chạy song hành. Nếu một ngày hệ thống Metro chở hàng triệu người gặp sự cố, xe buýt sẽ là phương án giải tỏa áp lực ngay lập tức, ngăn chặn tổn thất kinh tế khổng lồ từ việc hàng triệu người bị mất ngày công. Sự hiện đại phải luôn đồng hành cùng phương án truyền thống để mạch sống đô thị không bao giờ bị đứt gãy.
- Nếu chỉ được chọn một hành động cấp bách nhất ngay tại thời điểm năm 2026 này để tháo gỡ điểm nghẽn, ông sẽ đề xuất điều gì?
- TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn: Cải cách thể chế và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành thực chất. Hiện nay, kho tàng dữ liệu của chúng ta đang bị phân mảnh, mỗi Sở ngành tự nắm giữ một phần thông tin riêng lẻ. Để phá vỡ tình trạng "cát cứ" này, thành phố phải xây dựng ngay một Nền tảng dữ liệu đô thị tập trung (Big Data Platform).
Hãy tưởng tượng sức mạnh của nó: một chuyên gia quy hoạch tại Sở Quy hoạch Kiến trúc khi cần nghiên cứu một tuyến đường có thể ngay lập tức kết nối chéo với dữ liệu kẹt xe, dữ liệu công trình ngầm của Sở Xây dựng, bức tranh nhân khẩu học của Sở Nội vụ và cả tiến độ giải ngân từ Sở Tài chính.
Việc tập hợp mọi dữ liệu bấy lâu nay bị giấu kín thành một hồ chứa dùng chung sẽ biến nền tảng này thành công cụ quản lý quyền lực và hiệu quả nhất. Nó cho phép đưa ra những quyết sách điều hành sắc bén và tạo ra một môi trường hành chính minh bạch, nơi người dân có thể tra cứu thông tin hay xin cấp phép chỉ trong một hai ngày làm việc. Đó chính là viên gạch nền móng đầu tiên mà chúng ta phải đặt xuống ngay lúc này.
- Xin trân trọng cảm ơn TSKH-KTS Ngô Viết Nam Sơn về những góc nhìn thực tiễn và sắc sảo của ông!
Hồ Quang (thực hiện) - Theo MotTheGioi
