Kinh tế - Chính trị Kinh tế Việt Nam từ 2010 đến 2023 và con đường phía trước (phần B)

22 Trần Quốc Toản, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp.HCM
Tiêu điểm
Thư Giản: Abhigya Anand và dự báo 2026 CN & MT: Ba bước tư duy để không bị AI ru ngủ VH & TG: Mỹ-Trung: Tự tin thái quá, rủi ro leo thang Thư Giản: Dự đoán Điểm kỳ dị các vị trí q3 CN & MT: La Nina sụp đổ nhanh chóng, mở đường cho siêu El Nino năm 2026 Tin tức: IMF dự báo 20 nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất trong 5 năm tới VH & TG: Ray Dalio: Trật tự thế giới tan rã VH & TG: 210 trường tiểu học ở Hàn Quốc không có học sinh lớp 1 trong lễ khai giảng 2026 CN & MT: El Nino, La Nina có thể đang âm thầm 'cứu' thế giới khỏi hạn hán toàn cầu SK & Đời Sống: Những dự báo về tương lai con người từ một thế kỷ trước Tin tức: Đề xuất di dời Trường Đại học Bách khoa: Đừng tiếp tục “nén” cao ốc và dân cư vào trung tâm cũ CN & MT: Dầu mỏ và Tương lai Năng lượng VH & TG: Các cú sốc giá dầu do chiến tranh và tính toán địa chính trị trên thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua 1970-2026 Thư Giản: Gemini đã dự cảm khá rỏ dưới lăng kính của mac ngôn thé giới từ 2050. Nhưng từ 2010 ở... VH & TG: Học thuyết Trump: Chiến tranh mới VH & TG: TRUMP HAY SỰ BIẾN DẠNG CỦA THẾ GIỚI VH & TG: Sau Ali Khamenei, Trung Đông và trật tự thế giới sẽ thay đổi ra sao? VH & TG: Tại sao Netanyahu chọn tấn công Iran vào thời điểm này? VH & TG: Giáo sư Carl Thayer dự báo bức tranh thế giới sau xung đột Mỹ - Israel - Iran CN & MT: BA GÓC NHÌN VỀ CHUYẾN VIẾNG THĂM CÔNG TY DRONE RTR CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ NGUYỄN MẠNH HÙNG. VH & TG: Trung Quốc: Chiến lược "án binh bất động" CN & MT: IRAN LÀ CUỘC CHIẾN AI ĐẦU TIÊN CỦA LOÀI NGƯỜI  VÀ ĐÂY LÀ KẾT QUẢ TẠM VH & TG: BỨC TRANH CHIẾN LƯỢC TỪ GÓC NHÌN TRUNG QUỐC Tin tức: Quy hoạch bãi xe ngầm TP.HCM Tin tức: Tương lai hạ tầng Metro TP.HCM VH & TG: Singapore nới tuổi lao động ứng phó già hóa CN & MT: Lunar Mass Driver: Khoa học ủng hộ Elon Musk, nhưng 10 năm hiện thực hoá là quá lạc quan CN & MT: Cuộc đua thắp sáng Trái đất từ không gian SK & Đời Sống: Phường có mật độ dân số cao nhất Việt Nam, gấp 12 lần Hồng Kông (Trung Quốc), 10 lần Singapore Tin tức: Khai thác hiệu quả vỉa hè TP HCM : Trật tự thế giới trước nghịch lý lớn của thời đại CN & MT: Từ xe điện đến điện mặt trời: Bạc trở thành kim loại chiến lược BĐS: Nhu cầu thuê nhà tăng mạnh tại Hà Nội và TP.HCM Tiền Tệ : Nợ xấu ngân hàng vượt 10 tỷ USD: Không phải BIDV hay VPBank, đây mới là nhà băng có nhiều nợ xấu nhất BĐS: Giá bất động sản được dự báo khó giảm sâu, năm 2026 là phép thử sức bền BĐS: Khả năng tiếp cận vốn tín dụng của ngành bất động sản năm 2026 Tiền Tệ : Mỗi ngày vay hơn 2.600 tỷ đồng: Áp lực và lộ trình trả nợ công của Việt Nam ra sao trong năm 2026? BĐS: 3 “ông lớn” chia thị phần bất động sản TP.HCM năm Bính Ngọ: Vinhomes làm siêu dự án ngoại ô, Masterise tiếp tục giữ trung tâm, Sun Group đánh thức vùng ven sông Chứng khoán: Đầu tư nội địa giữa bất ổn toàn cầu BĐS: Mặt bằng trung tâm TP.HCM: Thực trạng và dự báo BĐS: Không đánh đổi giá nhà lấy tăng trưởng viển vông! BĐS: Thực trạng phân khúc nhà liền thổ tại TPHCM BĐS: 5 lưu ý khi đầu tư LƯỚT SÓNG bất động sản BĐS: Hơn 32.000 căn nhà ở xã hội gần TP.HCM trong kế hoạch xây dựng năm 2025 của Long An : Nếu không sửa luật, dự án bất động sản sẽ tắc trong 10 năm tới Tin tức: Đồng ý làm đường sắt nối TPHCM với sân bay Long Thành theo "lệnh khẩn cấp" SK & Đời Sống: Tinh thần thời đại Z VH & TG: Trung Quốc: Cuộc chiến phân tách quân đội với kinh tế VH & TG: Cuộc chiến nhập cư ở Mỹ: Đá lạnh và nòng súng nóng VH & TG: Thời đại Donroe và tương lai quan hệ quốc tế Thư Giản: Dự báo Xích Mã Hồng Dương 2026 VH & TG: Tàu sân bay Mỹ và Tương lai Tin tức: Cần Giờ vươn ra biển lớn CN & MT: El Niño có thể tái xuất cuối năm 2026: Trái đất trước nguy cơ nóng kỷ lục VH & TG: Căng thẳng Mỹ-Iran leo thang 3/3/2026 Tin tức: Tin hot 3.3 .2026 liên quan đến Iran và quan hệ Mỹ - Iran trong 24h qua CN & MT: Chiến lược không gian Mỹ và dự báo Brzezinski CN & MT: Tương lai gia đình và lòng mẹ CN & MT: Tương Lai Gia Đình Và Xã Hội Cá Nhân Tin tức: Chi phí logistics Việt Nam - Trung Quốc VH & TG: "TOÀN VĂN BÀI PHÁT BIỂU CHẤN ĐỘNG CỦA BỘ TRƯỞNG CHIẾN TRANH PETE VỀ CUỘC CHIẾN IRAN  VH & TG: Iran dùng 'vũ khí' độc tôn, toàn cầu đối diện nỗi lo mới CN & MT: Năng Lượng Hạt Nhân Mini: Tương Lai Mỹ Tin tức: Việt Nam đối mặt địa chấn kinh tế p2 Tin tức: TPHCM đột phá hạ tầng chiến lược mở lối ra hướng biển Tin tức: Cuộc di dân để xây đô thị TOD quanh ga metro TPHCM CN & MT: Tương lai Đại dương và Hồi phục Sinh thái Thư Giản: Địa Chính Trị và Dịch Lý: Vận Thế Thư Giản: Bính Ngọ 2026: Điểm Gãy Lịch Sử BĐS: Hạ tầng mở đường chu kỳ mới SK & Đời Sống: Việt Nam đối mặt địa chấn kinh tế Thư Giản: Thế kỷ 16 và 2026: Dự báo Lịch sử SK & Đời Sống: Di dân: Sức khỏe, chất lượng sống, tái định nghĩa Thư Giản: Kinh Dịch, Địa Chính Trị và Vận Mệnh SK & Đời Sống: Bùng nổ các đại đô thị Tiền Tệ : Phân tích hệ thống ngân hàng Việt Nam 2026 SK & Đời Sống: Tái cấu trúc KCN Việt Nam quanh cảng SK & Đời Sống: Hoàng Sa, Nguyễn Văn Trỗi Đến 2035 BĐS: Chủ nhà chốt lời đúng đỉnh: Ôm 23 tỷ bán chung cư gửi ngân hàng thu lãi 115 triệu mỗi tháng, rồi ở nhà thuê chờ BĐS giảm giá mới mua Tiền Tệ : Chân dung người được chọn vào ghế Chủ tịch Fed: 35 tuổi đã vào Hội đồng Thống đốc, nổi tiếng với lập trường cứng rắn về nới lỏng tiền tệ SK & Đời Sống: Cấp phép kinh doanh mặt tiền đường yêu cầu phải có chỗ để xe cho khách, không lấn chiếm vỉa hè? Tiền Tệ : Luật Tiền Mới: Thanh Lọc Hay Sụp Đổ? SK & Đời Sống: Thư Gửi Tương Lai: Bài Học Lịch Sử Tiền Tệ : Fed, USD và Tương lai Kinh tế Toàn cầu SK & Đời Sống: Cô đơn: Xu hướng xã hội Việt Nam BĐS: TS Cấn Văn Lực: Bất động sản không phải là lĩnh vực được ưu tiên vay vốn Thư Giản: Cuộc Xuất Hành Vĩ Đại 2026: Bình Minh Mới BĐS: Dòng tiền đầu tư 'áp đảo' thị trường bất động sản Thư Giản: Bình minh 2026: Cuộc xuất hành vĩ đại VH & TG: Chiến lược An ninh Quốc gia Mỹ: Răn đe Trung Quốc Chứng khoán: 150 nhà đầu tư toàn cầu đến Việt Nam tìm cơ hội "giải ngân" VH & TG: Nhật Bản cân nhắc vũ khí hạt nhân Chứng khoán: PHẦN 3: THỊ TRƯỜNG THĂNG HOA XUẤT TƯỚNG NHỮNG 'ANH HÙNG' Chứng khoán: VN-Index mất gần 30 điểm Chứng khoán: Mía đường Cao Bằng (CBS) chốt quyền trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 30% Chứng khoán: CHỨNG KHOÁN QUÝ 4.2025 Kì 2 BĐS: Đất ở ổn định 20 năm, không có khiếu kiện, tranh chấp có được cấp sổ đỏ hay không
Bài viết
Kinh tế - Chính trị Kinh tế Việt Nam từ 2010 đến 2023 và con đường phía trước (phần B)

    B. Những nét lớn trong chính sách công nghiệp hóa ở Việt Nam

    1. Giai đoạn khởi sắc ngắn nhất so với nền kinh tế rồng cọp ở khu vực châu Á

    Sau khi đổi mới vào cuối những năm 80’s, chấp nhận kinh tế thị trường nhiều thành phần, nền kinh tế tăng trưởng khá với tốc độ bình quân hàng năm là 7.4 trong những năm 1990’s và có lúc được hy vọng thành con rồng con cọp.

    Sau thành công trên, Đại hội Đảng X năm 2006 và sau đó là Đại hội XI 2011 nhấn mạnh đến công nghiệp hóa nhưng với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được hiểu như thế nào? Nếu hiểu chủ đạo là can thiệp để tạo cơ sở về giáo dục, nghiên cứu đi vào và phát huy và thu hút tri thức, công nghệ tiên tiến, cũng như xây dựng hạ tầng cơ sở, chống độc quyền nhằm tăng cường tính cạnh tranh của thị trường hoặc nâng cao tính phục vụ,  vô tư không tham nhũng của hệ thống công quyền, kể cả phân phối lại lợi tức xã hội để giải quyết nghèo đói thì thật đáng hoan nghênh, nhưng tiếc thay thực chất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không may đã đi qua 2 giai đoạn.

    Giai đoạn 1. Chủ đạo vào thập kỷ 2000’s được hiểu là nhà nước bỏ tiền xây dựng các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

    Giai đoạn 2 và gần đây.  Giai đoạn này là tập trung thu hút đầu tư nước ngoài, dù đáng hoan nghênh, nhưng thực chất là chỉ chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài nhằm sử dụng lao động cơ bắp giá rẻ trong nước làm hàng gia công cho các nước khác như Hàn Quốc và Trung Quốc để xuất khẩu sang Mỹ và các nước Tây phương khác.

    Thậm chí ở giai đoạn 2, Bộ Chính trị của Đảng năm 2018 đã chỉ thị cho chính phủ đưa ra quốc hội đề xuất luật cho phép thiết lập các khu kinh tế tự do (FEZ) trên ba địa điểm cụ thể: Vân Đồn, một thị trấn ở phía bắc giáp Trung Quốc, Bắc Vân Phong ở miền Trung Việt Nam, và Phú Quốc, một hòn đảo gần Vịnh Thái Lan. Đề xuất cho phép hợp đồng thuê đất 99 năm đối với nhà đầu tư nước ngoài, miễn thị thực cho người nước ngoài, đồng thời cho phép dùng ngoại tệ trong trao đổi, điều sau này có nguy cơ làm mất quyền kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương. Các đặc khu trên không gần bất kỳ trường đại học hay trung tâm nghiên cứu nào có thể cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và lao động tay nghề cao cho FEZ. Sau sự phản đối dữ dội của công chúng, quốc hội đã quyết định không bỏ phiếu. Tuy nhiên, sự thúc đẩy đằng sau sáng kiến trên hình như là tạo cơ hội và động lực cho nhóm lợi ích nhà đất phát triển làm giầu, và dù không thế, nó  phản ánh một cách tiếp cận hết sức đơn giản trong mục đích thu hút sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài mà rõ ràng là không phải phát huy công nghệ như Nhật Bản, Hàn Quốc và mới đây là Trung Quốc đã làm.

    Chính vì thế, thành tích của đổi mới đạt tăng trưởng bình quân năm 7% trở lên chỉ kéo dài được một thập kỷ vào những năm 90’s so với bốn thập kỷ tăng trưởng của Hàn Quốc và 5 thập kỷ của Trung Quốc với tốc độ tăng đạt được cao hơn hẳn Việt Nam từ 8-10% (coi bảng B14). Thành tích tăng trưởng cao thời kỳ 90’s ở Việt Nam đã gần như bị phá vỡ với chiến lược tập trung xây dựng các siêu tập đoàn quốc doanh như Vinashin – tập đoàn đóng tàu, Vinalines – tập đoàn vận tải biển và PetroVietnam, mỗi tập đoàn cho ra hàng trăm các vệ tinh gần như tư nhân với quyền sử dụng miễn phí đất công, các khoản tín dụng từ ngân hàng nhà nước và các khoản vay từ thị trường quốc tế đã làm giàu cho những người có liên quan.

    B14. Tốc độ tăng GDP bình quân năm của từng thập kỷ của một số nước

      1960’s 1970’s 1980’s 1990’s 2000’s 2010’s
    Hàn Quốc 9.5 10.5 8.8 7.1 4.7 2.6
    Trung Quốc 3.4 7.4 9.7 10.0 10.4 8.3
    Việt Nam     4.3 7.4 6.6 6.2

    Nguồn: với VN, số liệu trước năm 2010 là số liệu cũ, nhưng có lẽ cũng như thời 2010’s tốc độ tăng trưởng không thay đổi đáng kể.

    2. Lạm phát cao: Kết quả của chính sách coi kinh tế quốc doanh là quả đấm thép

    Sự tập trung xây dựng các tập đoàn nhà nước đã đưa nền kinh tế đến mức khủng hoảng với lạm phát cao trong giai đoạn 2007-2013  với tỷ lệ cao nhất trên 23% (coi bảng B15), nợ trong nước và quốc tế cao, thâm hụt ngân sách chính phủ cao, tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn và tất nhiên là tham nhũng. Cuộc khủng hoảng đã được tác giả này phân tích trong một bài báo năm 2009. [1]

    Thời kỳ 2008-2014 có thể coi là thời khủng hoảng, tốc độ tăng GDP giảm xuống dưới 6% và nhiều năm chỉ cao hơn 5% một chút trong khi giá tiêu dùng tăng cao: cao nhất là 23% năm 2008 và 18.6% năm 2011.

    Tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ 2014-2019 đã trở lại ổn định hơn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm 7% và lạm phát bình quân năm ở mức 3%.

    B17. Lãi suất ngắn và trung hạn: danh nghĩa và thực[2]

      2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022
    Lãi suất danh nghĩa ngắn và trung hạn 13.1% 17.0% 13.5% 10.4% 8.7% 7.1% 7.0% 7.1% 7.4% 7.7% 7.6% 7.8% 7.8%
    Tăng CPI (%) 9.2% 18.6% 9.2% 6.6% 4.1% 0.6% 2.7% 3.5% 3.5% 2.8% 3.2% 1.8% 4.6%
    Lãi suất thực 3.9% -1.6% 4.3% 3.8% 4.6% 6.5% 4.3% 3.6% 3.9% 4.9% 4.4% 6.0% 3.2%

    Từ sau năm 2015, lạm phát giảm xuống mức dưới 4% năm rõ ràng là do chính sách tăng lãi suất hơn là giảm cung tiền M2 (coi bảng B16) vì không thấy có sự quan hệ rõ ràng giữa tốc độ cung tiền và tốc độ lạm phát, dù có thể cần có sự phân tích sâu hơn của các nhà kinh tế. Và các nhà làm chính sách Việt Nam cũng  nên phân tích kỹ để rút kinh nghiệm về chính sách phản xạ giảm cung tiền (M2) quá mức cần thiết kể từ 2014 trở đi, lãi suất cho vay ngắn và trung hạn quá cao so với mức lạm phát đã rõ ràng giảm, đưa lãi suất thật (lãi suất danh nghĩa trừ lạm phát) lên mức 4-6% đã làm giảm tiềm năng phát triển của nền kinh tế, và chính sách này vẫn tiếp tục cho đến nay có thể đã đẩy nhiều doanh nghiệp phá sản ở giai đoạn Covid 2020-2022.  Việc giảm lưu lượng tiền M2 quá đáng có thể gây khó khăn cho nền kinh tế. Ngoài ra, chính sách từ năm 2019 giữ lãi suất cao trong khi giá tiêu dùng giảm có thể đã gây thêm khó khăn cho nền kinh tế nhất là trong thời Covid. Năm 2022 GDP tăng 8% chỉ là việc trở lại tình trạng bình thường chứ không có gì đặc biệt.

    3. Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và xuất khẩu sau sự thất bại của quả đấm thép

    Từ năm 2018, Bộ Chính trị ĐCSVN dường như có cách tiếp cận khác để đạt được mục tiêu tương tự về công nghiệp, nhưng lùi lại 10 năm đến năm 2030. Để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 13 vào năm 2021, năm 2018, Bộ Chính trị đã ban hành một chỉ thị quan trọng về công nghiệp, đưa ra một số ý kiến ​​hợp lý nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp tư nhân, ưu tiên công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử và kinh tế xanh, lấy khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo làm mũi nhọn tạo đột phá trong chính sách công nghiệp quốc gia. Sau đó, chỉ thị nêu rõ rằng đến năm 2030, ngành sản xuất sẽ chiếm 30% GDP, trong đó 20% sẽ thuộc về các ngành công nghệ cao.

    Tuy nhiên thực tế lại là chỉ thị yêu cầu chính phủ trình quốc hội đề xuất luật các khu kinh tế (FEZ) trên ba địa điểm cụ thể với hợp đồng thuê đất 99 năm cho các nhà đầu tư nước ngoài và miễn thị thực cho người nước ngoài: tại Vân Đồn, một thị trấn ở phía bắc giáp Trung Quốc, Bắc Vân Phong ở miền Trung Việt Nam và Phú Quốc, một hòn đảo gần Trung Quốc. Vịnh Thái Lan.  Chỉ thị dường như thiếu sự ủng hộ chính trị thống nhất vì đã đi theo hướng ngược lại nội dung của mục tiêu công nghiệp hóa. Các điểm du lịch trên không gần bất kỳ trường đại học hay trung tâm nghiên cứu nào có thể cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và lao động tay nghề cao cho FEZ. Sau sự phản đối dữ dội của công chúng, quốc hội đã quyết định hoãn quyết định của mình, “xin lùi thông qua luật về đặc khu để có thêm thời gian nghiên cứu”.[3]  . Tuy nhiên, sự thúc đẩy đằng sau sáng kiến ​​sai lầm này đang bộc lộ. Đặc biệt, nó phản ánh một cách tiếp cận hết sức đơn giản trong việc sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Trong hơn 10 năm qua, tính từ năm 2010 so với năm 2021, Việt Nam khuyến khích đầu tư nước ngoài. Nhìn chung, hiện đại hóa theo quan điểm của các nhà hoạch định chính sách Việt Nam dường như chủ yếu tập trung vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sử dụng lao động giá rẻ không chuyên để xuất khẩu.  Số liệu ở B18.2 cho thấy, Việt Nam quá dựa vào đầu tư nước ngoài (FDI). FDI chiếm trung bình gần 15% tổng tích lũy của nền kinh tế, tỷ lệ này gần gấp đôi mức cao nhất ở Trung Quốc thời năm 2000 là 8% tổng tích lũy và cao hơn rất nhiều tỷ lệ ở  Hàn Quốc  .

    Nhưng có thể nói chính sách kinh tế đã chuyển hướng dựa vào đầu tư nước ngoài (FDI). Trong thập niên 2010-2020, cơ cấu lao động FDI tăng 2.7 lần, chiếm 9.3 thị trường lao động năm 2020 nhưng cơ cấu góp vào GDP chỉ tăng 1.3 lần, chiếm 20% GDP (coi B18.2). Có thể nói đầu tư nước ngoài chủ yếu dựa vào lao động không chuyên và giá rẻ của Việt Nam. Tính FDI/GDP thì gần 10 năm tỷ lệ này là 5%, so với cao điểm 4.6% ở Hàn Quốc năm 1972, 2.2% năm 1999 và chỉ xảy ra 1 năm, còn luôn thấp hơng 1% GDP.

    B18.1. GDP, tích lũy của nền kinh tế và FDI tính theo tỷ USD[4]

      2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
    GDP (tỷ US) 147.2 172.6 195.6 213.7 233.5 239.3 257.1 281.4 310.1 334.4 346.6 366.1
    Tích lũy FDI (tỷ US) 8 7.4 8.4 8.9 9.2 11.8 12.6 14.1 15.5 16.1 15.8 15.7
    FDI/GDP 5.4 4.3 4.3 4.2 3.9 4.9 4.9 5.0 5.0 4.8 4.6 4.3
    Tổng tích lũy (tỷ USD) 54.6 55.9 59.8 64.6 70.7 76.8 81.6 90.9 99.3 106.9 110.6 122.5
    Tích lũy FDI/Tổng tích lũy 14.6 13.3 14.0 13.8 13.0 15.4 15.4 15.5 15.6 15.1 14.3 12.8

    B18.2. Đóng góp của FDI trong cơ cấu lao động và GDP trong nền kinh tế(%)

      2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
    Lao động của FDI 3.5 4.2 4.4 4.8 5.4 6.0 6.7 7.8 8.4 8.7 8.8 9.3
    GDP của FDI 15.1 15.4 15.6 17.0 17.4 17.5 17.8 18.6 19.5 19.9 20.0 20.0
    Tích lũy FDI/Tổng tích lũy 14.6 13.3 14.0 13.8 13.0 15.4 15.4 15.5 15.6 15.1 14.3 12.8

    Do đó có thể thấy ngoại thương phát triển rất mạnh, thoạt nhìn, Việt Nam có vẻ là một câu chuyện thành công về FDI và xuất khẩu, và ở một số khía cạnh thì đúng như vậy. Đến năm 2020, Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới chỉ sau Singapore về tỷ lệ ngoại thương về hàng hóa trên GDP (163%) và tỷ lệ vốn FDI trên GDP cũng rất cao so với các nước khác chỉ sau Singapore (coi B19). Ở Việt Nam, năm 2021, tỷ lệ ngoại thương/GDP tiếp tục tăng, lên tới 183% GDP.

    B19.  Tỷ lệ ngọai thương và đầu tư nước ngoài (FDI) tính trên GDP (%), 2020

     
      Việt Nam Trung Quốc Hàn Quốc Nhật  Lai Thái Lan Philippines Singapore Thế giới
    Ngoại thương/GDP (%) -2020 163 35 69 31 117 98 58 332 52
    FDI/GDP (%) 2018 4.6 1.7 0.8 0.5 2.4 2.6 3.0 25.0 1.6

    Có một sự liên hệ đặc biệt giữa FDI và ngoại thương từ Việt Nam. Đó là nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, nhập khẩu hàng nguyên liệu hoặc bán thành phẩm từ nước họ để gia công thêm làm hàng xuất khẩu xâm nhập vào thị trường Mỹ và Châu Âu.  Bảng B20 cho thấy tính gia công của ngành may mặc và nhất là máy móc điện tử. Nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan để làm hàng xuất sang Mỹ và Liên hiệp Châu Âu.

    Bảng 21 cho thấy rõ điều này: Việt Nam có số dư rất lớn trong cán cân xuất nhập khẩu với thị trường Mỹ và Châu Âu và với Mỹ thì ngày càng tăng. Ngược lại, Việt Nam có thiếu hụt rất lớn với Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan.

    Bảng 20. Xuất nhập khẩu hàng hóa theo từng loại hàng năm 2020 (tỷ US)

    Như đã  nói, đầu tư nước ngoài chỉ tập trung vào lao động tay chân do đó có năng suất lao động thấp. Bảng B22 cho thấy vào năm 2017 tình trạng doanh nghiệp FDI có tỷ lệ lao động trên vốn rất cao, cao nhất trong nền kinh tế.  Đây là những ngành sử dụng công nghệ thấp và lao động phổ thông như may mặc và lắp ráp điện tử.

    Những ngành này, với đặc trưng là tỷ lệ lao động trên vốn rất cao, mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi đóng góp rất ít vào quá trình công nghiệp hóa hoặc nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động của Việt Nam. Số liệu năm 2016 (rất tiếc chỉ biết được 1 năm) là năng suất lao động của FDI thấp hơn  năng suất lao động  doanh nghiệp nhà nước và cả doanh nghiệp tư nhân trong nước.  Không những thế,  trong thời gian dài năng suất trung bình khu vực FDI  giảm so với năng suất lao động tăng mạnh ở khu vực nhà nước, cũng như so với cả khu vực ngoài nhà nước trong nước, chủ yếu là hoạt động sản xuất hộ gia đình (coi B23 và B24).

    Một lý do đáng lo ngại hơn là FDI mà Việt Nam thu hút vẫn chủ yếu tập trung vào may mặc và hàng điện tử (xem B18). Trong khi đó, Việt Nam đạt được rất ít tiến bộ trong việc thu hút FDI vào các lĩnh vực có giá trị cao hơn, phần lớn là do nhà nước Việt Nam thất bại trên nhiều phương diện.

    B22.  Vài chỉ tiêu cơ bản về doanh nghiệp ở Việt Nam, 2017

      Hệ số lao động trên vốn (tỉnh theo 10 tỷ đồng))  Lợi nhuận trước thuế/Vốn sở hữu (%) Nợ trên vốn chủ sở hữu (%)
    Doanh nghiệp đăng ký 5.0 8.4                      231.2
         Nhà nước 1.6 10.7                      331.6
         Tư nhân trong nước 5.7 4.1                      225.4
         FDI 8.2 16.2                      152.3

    Nguồn: Tổng cục Thống kê, Kết quả Tổng điều tra Kinh tế Năm 2017https://www.gso.gov.vn/wp-content/uploads/2019/03/TDTKT-2017.pdf

    Để so sánh quốc tế, có thể tập trung vào xem xét năng suất lao động tính theo giá trị gia tăng mà một lao động tạo ra trong khu vực công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai khoáng, chế biến, điện nước và xây dựng). Có thể  thấy ở Bảng B25, năng suất lao động công nghiệp ở Việt Nam dù có tăng vẫn chỉ tương đương với Ấn Độ và thấp xa so với Trung Quốc hay Phiippines. Năm 2019 tính theo đồng USD của  năm 2015, Việt Nam là $6,800 so với Ấn Độ là $6,000, Indonesia và Philipines là $14,000, còn Trung Quốc là $27,000, dù Trung Quốc vẫn còn thấp xa so với Hàn Quốc là $75,000 (vào năm 2015).  Năng suất lao động trong công nghiệp trong thời kỳ 2010-2021 tăng trung bình 4.2% một năm, nhưng thấp xa so với bình quân năm 7.4% ở Trung Quốc. Năng suất lao động của khu vực FDI giảm nên không đóng góp gì vào việc tăng năng suất lao động công nghiệp nói chung ở trên.[5]

    Điểm cuối cùng cần nói về đầu tư trực tiếp nước ngoài là các nhà đầu tư FDI đã được hưởng lợi rõ ràng từ khoản đầu tư của họ vào Việt Nam với tỷ suất lợi nhuận trước thuế so với vốn sở hữu (ROE) là 18%[6]  và như thế là khá cao so với tỷ suất trung bình trên thế giới là 13% và 14% ở Mỹ.[7]

    Dòng thu nhập phát sinh từ đầu tư nước ngoài được chuyển ra  nước ngoài là 16 tỷ US  lần đầu tiên vào năm 2018 vượt qua 14.9 tỷ dòng vốn FDI chuyển vào (xem B26).  Đã đến lúc Việt Nam cần xem xét lại chính sách trong đầu tư nước ngoài.

    B26.  Đầu tư nước ngoài chảy vào so với thu nhập đầu tư chuyển ra, 2000-2018 [8]

    THỐNG KÊ TRUY CẬP
    • Đang online 17
    • Truy cập tuần 6
    • Truy cập tháng 39887
    • Tổng truy cập 622477